luyện khí công 6 hơi thở
Theo đó, lượng nước cần bổ sung khi tập thể dục là: Uống 500 đến 590ml nước khoảng 2 đến 3 giờ trước khi tập luyện. Uống 230 ml nước vào 20 - 30 phút trước khi bắt đầu tập luyện. Cứ sau 10 đến 20 phút khi tập thể dục thì bạn nên nghỉ ngơi và bổ sung 200 - 290ml
Mỗi lần 15-30 phút, dao động 2-6 cái tùy sức, có thể nhiều hơn. Số lần dao động khi mới tập thì nên ít, quen rồi thì dao động nhiều hơn, làm từ 6-10 hơi thở. Theo bác sĩ Vũ, động tác này rất đơn giản, có ưu điểm là người bệnh giữ sự chủ động, có thể tự tập, không sợ té ngã, phù hợp với người sức yếu, không cần sử dụng thêm các dụng cụ tập gì.
Khi bị xóc bụng, giảm tốc độ đôi chút, hít sâu thở đều. Bạn có thể chậm lại vài giây hoặc vài chục giây mỗi kilomet, không sao cả, cuộc đua còn rất dài. Đừng cố chạy quá nhanh đến mức phải dừng hẳn lại không thể chạy được. Có thể dùng tay ấn mạnh vào vùng đau. Hơi ngả người về phía trước.
Vay Tiền Online Cấp Tốc 24 24.
Bằng cách tập thở, bạn tập luyện để có ít chu kỳ thở hơn, điều đó có nghĩa là bạn thở lâu hơn trong quá trình thở. Hít thở nhanh và ngắn không phải là dấu hiệu của sức khỏe tốt. Thiền đi với nhịp thở chậm và nó là để cải thiện sức khỏe cả về tinh thần và thể chất. Nếu bạn đã tham gia lớp thiền thiền hoặc yoga, tôi chắc chắn bạn đã học được cách thở chậm và lâu hơn. Các bước tập thở dài. Đây là các bước đơn giản tôi đề xuất để cải thiện hoặc mở rộng nhịp thở của bạn. Giai đoạn 1 tập khí công tập thở Bạn đã kiểm tra chu kỳ thở của mình và bây giờ bạn biết bạn thường thở bao nhiêu lần mỗi phút. Nếu bạn đang thở 2 lần hoặc ít hơn 2 lần mỗi phút, bạn có thể chuyển sang Giai đoạn 5. Tuy nhiên, hầu hết các chúng ta có thể thở trên 10 lần trở lên mỗi phút. Bạn muốn giảm số lượng xuống nhưng chúng ta phải làm điều này dần dần, không được vội. Giai đoạn 2 tập khí công tập thở Những gì bạn cần làm là cắt giảm chu kỳ thở xuống 8 lần mỗi phút, trừ khi bạn đã ở mức đó. Tám chu kỳ có nghĩa là bạn mất 7 đến 8 giây cho mỗi chu kỳ thở. Để dễ dàng hơn trong việc tính toán, hãy bấm đồng hồ 8 giây cho một chu kỳ. Những gì bạn cần làm là phân bổ cùng thời gian cho việc hít vào và thở ra. Nói cách khác, bạn cần hít vào trong 4 giây và thở ra trong 4 giây nữa. Điều này không quá khó để thực hiện. Ở cấp độ này, bạn không cần thời gian nín thở. Điều khó khăn là làm cho chu kỳ này trở thành thói quen. Trừ khi bạn tập luyện thói quen thở thường xuyên và cơ thể thời gian thích nghi với phương pháp này. Bằng cách nhắm mắt lại, mặc dù không bắt buộc và cố gắng không suy nghĩ gì trong đầu, tạm quên đi mọi thứ sung quanh bạn, bạn có thể tập trung vào hơi thở của mình dễ dàng hơn nhiều. Tôi đề nghị bạn nên tập luyện mỗi ngày nếu có thể, trong một tháng. Điều này giống như tập luyện võ, vì vậy thời gian tập thở tối thiểu nên từ 3 đến 4 lần mỗi tuần và không ít hơn. Nếu bạn không có nhiều thời gian rảnh vào ban ngày, bạn có thể làm điều này trong khi bạn đang ở trên giường ngay sau khi bạn thức dậy hoặc trước khi bạn đi ngủ. Giai đoạn 3 tập khí công tập thở Nếu bạn trở nên thoải mái với tám lần mỗi phút, hãy mở rộng nhịp thở và thử 4 lần mỗi phút. Bạn sẽ sử dụng khoảng 15 giây cho một chu kỳ thở, trong đó bạn sẽ không chỉ dành cùng một khoảng thời gian cho việc hít vào và thở ra, mà bạn có thể muốn giới thiệu một giai đoạn nín thở. Lượng thời gian mong muốn cho mỗi phần của chu kỳ thở hít vào, thở ra và giữ là 5 giây mỗi lần. Tuy nhiên, ban đầu, bạn có thể thấy khó thở quá lâu. Trong trường hợp đó, bạn có thể giảm thời gian giữ, giảm xuống còn 3 giây. Tất nhiên, thời gian hít vào và thở ra, sẽ được kéo dài đến 6 giây mỗi lần để giữ tổng thời gian chu kỳ ở mức 15 giây. Khi bạn cảm thấy thoải mái khi thực hiện nhịp thở này trong những khoảng thời gian đó trong một giờ hoặc lâu hơn thì bạn có thể tăng thời gian giữ lên 5 giây hoặc thậm chí lâu hơn. Giống như bạn đã làm ở giai đoạn 2, bạn cần rèn luyện kỹ thuật thở của mình thường xuyên nhất có thể trong ít nhất một tháng hoặc cho đến khi bạn cảm thấy thoải mái khi thực hiện chu trình thở như mô tả ở trên. Tất nhiên, nếu giảm xuống 4 lần mỗi phút là quá khó, bạn có thể giảm xuống còn 6 lần từ 8 lần. Điều này là dần dần nhiều hơn và sẽ dễ dàng hơn để áp dụng. Tuy nhiên, thời gian để đạt được mục tiêu cuối cùng sẽ còn xa hơn. Bạn cần quyết tâm và kiên nhẫn hơn vì bạn sẽ phải thực hiện nhiều bước hơn. Giai đoạn 4 tập khí công tập thở Nếu bạn thành công với 4 lần mỗi phút, bạn sẵn sàng giảm xuống còn 3 lần mỗi phút. Mặc dù việc cắt giảm xuống còn 3 từ 4 dường như là dễ dàng, bạn sẽ tìm ra mức độ khó tăng theo cấp số nhân. Trong 3 chu kỳ thở, bạn sẽ thực hiện một chu kỳ trong 20 giây. Bạn có thể chia ba chức năng như nhau, chẳng hạn như 7 giây mỗi động táchít, thở, nín. Có ba cách thở khác nhau. Một là hình thức thở ra, hít vào và nín. Thứ hai là hít vào, thở ra và giữ. Hai cái này có vẻ giống nhau và bạn có thể không thấy sự khác biệt. Tuy nhiên, bạn sẽ thấy, nếu bạn thử chúng, phương pháp thứ hai khó hơn phương pháp thứ nhất. Nói cách khác, việc nín thở sẽ dễ dàng hơn nhiều sau khi bạn lấp đầy phổi bằng không khí. Cách thở thứ 2 ngược lại, bạn cần nín thở sau khi bạn làm trống phổi. Cách thứ ba là chia đôi thời gian lúc 'nín' và đặt nó sau mỗi lần hít vào và thở ra. Nói cách khác, bạn sẽ dành 7 giây để hít vào, giữ trong 3 giây sau đó dành 7 giây để hít vào và cuối cùng có lần giữ thứ hai là 3 giây. Phương pháp này sẽ cung cấp cho bạn một cơ hội để rèn luyện hơi thở sau khi thở ra. Khi bạn đã quen với phương pháp này, bạn có thể chuyển đến phương pháp một và hai được mô tả ở trên. Giai đoạn 5 tập khí công tập thở Nếu bạn có thể thở thoải mái ba chu kỳ mỗi phút, mục tiêu cuối cùng của bạn là giảm xuống còn hai chu kỳ hoặc 30 giây cho mỗi chu kỳ thở. Quá trình đào tạo rất giống với Giai đoạn 4. Bạn có thể tự mình tìm ra tìm ra cách để tập luyện như bước 4 vì vậy tôi sẽ bỏ qua việc mô tả chi tiết. Bạn có thể muốn hỏi nếu hai chu kỳ mỗi phút là mục tiêu cuối cùng. Không, vẫn chưa phải là nó. Mục tiêu cuối cùng cho võ sĩ, tôi nghĩ sẽ là một chu kỳ mỗi phút. Trên thực tế, một số chuyên gia Yoga và bậc thầy Zen có thể và thở lâu hơn nhiều. Khoảng thở trung bình của tôi khi tôi thiền là khoảng 2 lần mỗi phút. Mặc dù đó là một con số tốt, tôi chưa đạt đến trình độ tổng thể. Mục tiêu hiện tại của tôi là giảm nó xuống một lần mỗi phút. Hãy thử bài tập được mô tả ở trên và xem bạn có thể kéo dài chu kỳ thở của mình không. Nếu bạn bận rộn và không tìm thấy thời gian rảnh rỗi mỗi ngày, bạn có thể tập thở trong khi lái xe. Nó sẽ không chỉ rèn luyện hơi thở của bạn mà đồng thời nó sẽ giúp bạn thư giãn. Kết quả là bạn sẽ bớt mệt mỏi khi lái xe khi bạn tập thở chậm. Nếu sở thích của bạn là đọc sách như tôi thì việc đào tạo này là hoàn hảo để đi cùng với việc đọc của bạn. Bạn sẽ thích đọc sách và đôi mắt của bạn sẽ không mệt mỏi như trước. Nếu bạn cũng phải làm việc trước máy tính trong một thời gian dài, bài tập này sẽ giúp bạn tập trung. Những lợi ích gần như vô hạn và một điều tuyệt vời của bài tập thở là bạn có thể làm điều này gần như mọi lúc và mọi nơi. Bạn sẽ không có lý do gì để không thực hiện phương pháp này. Sau khi quen với phương pháp này hàng ngày, bạn có thể dễ dàng thực hiện nó trong quá trình tập luyện võ thuật. Nhịp tim bpm Đối với tôi, lợi ích tốt nhất tôi có thể nhận được từ việc thở dài hơn là nhịp tim chậm hơn. Một Bác Sĩ sẻ nói với bạn rằng bạn không thể kiểm soát tốc độ hoặc hành động của trái tim nhưng điều đó không đúng. Bằng cách thở khác nhau, làm thay đổi điều đó. Nếu bạn nín thở, trong một phút, nhịp tim của bạn sẽ tăng lên. Mặt khác, nếu bạn kéo dài hơi thở, nghĩa là thở dài hơn, nhịp tim của bạn sẽ chậm lại. Bằng cách thực hành phương pháp thở nghiêm túc, bạn có thể kiểm soát hoạt động trái tim của bạn và tốc độ và nhịp đập của nó. Khả năng này sẽ là một lợi ích lớn nếu bạn là một vận động viên. Nhịp tim hoặc nhịp tim trung bình là 60-100 bpm nhịp mỗi phút. Mục tiêu nên ở một nơi nào đó trong khoảng từ 50 đến 60 bpm beat per minute. Thả lỏng Một lợi ích khác của việc kiểm soát và thở chậm là thả lỏng thư giãn hoàn toàn đi xa hơn cơ bắp của bạn. Bạn sẽ có thể thả lỏng, một cách vô thức, các mạch máu có đường kính lớn hơn để cho máu chảy nhiều hơn. Càng nhiều máu chảy vào đầu bạn trong khi thiền sẽ giúp bạn nếu bạn muốn đạt đến giai đoạn niết bàn và hoặc toàn bộ mu. Đây là lý do tại sao thiền zen đi kèm với một thực hành thở là thở rất chậm. Ngoài ra, sau khi tập luyện võ thuật chăm chỉ, bạn có thể hồi phục nhanh hơn với các mạch máu thả lỏng. Nếu bạn gặp vấn đề với việc ngủ sau một buổi tập luyện vất vả vào buổi tối, tôi khuyên bạn nên thực hiện nhịp thở chậm có kiểm soát xuống còn 2 chu kỳ thở mỗi phút. Điều này sẽ làm chậm nhịp tim của bạn và sóng não của bạn sẽ thay đổi thành Alpha và thậm chí xuống Theta sau đó tôi đảm bảo rằng bạn sẽ có một giấc ngủ rất yên tĩnh rất nhanh. Các mạch máu thả lỏng cũng có thể ngăn ngừa nhiều trường hợp đau tim và đột quỵ.
Đó là bản chất của kỹ thuật “vận khí”, làm sao làm chủ được Khí để vận hành nó trong cơ thể theo ý muốn của mình, theo mục đích của mình. Các yếu tố chính của quá trình Khí vận bao gồm 1. Hơi thở Khí công Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu. Rất nhiều người còn nhầm lẫn rằng Khí công chỉ thuần thúy là luyện thở. Tất nhiên khâu đầu tiên của Khí công là luyện thở, qua đó không những làm cho hơi thở trong phổi và trong cơ thể của mình tốt hơn, mà còn làm cho các quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể được tốt hơn. Nhưng đó chỉ là luyện cho Khí Hậu thiên. Bản chất Khí công còn luyện sao cho làm chủ được Khí Tiên thiên của con người. Như vậy hơi thở trong Khí công phải là hơi thở thể hiện được mối quan hệ đồng bộ giữa hơi thở của con người với năng lượng vận hành trong cơ thể. Khi thở trong quá trình luyện Khí công có 4 trạng thái chính, hay còn gọi là 4 nhịp của một chu trình thở – Đi vào nhịp hít vào. Thu khí từ bên ngoài vào bên trong cơ thể – Nén tụ nhịp nín thở. Nén tụ khí lại để kích thích tác động cho quá trình phát sinh Tiên thiên khí, phát động cơ năng và chức năng của Khí. – Đi ra nhịp thở ra. Đưa khí trong cơ thể ra ngoài. – Tán xạ nhịp ngưng thở. Tán xả dư khí, trọc khí ra xung quanh. Trong quá trình thu vào, Khí đi từ trên xuống gọi là trạng thái giáng Khí. Quá trình đưa ra, Khí đi từ dưới lên gọi là trạng thái thăng Khí. Muốn làm chủ quá trình thu xả phải có sự đồng bộ giữa hoạt động của Khí và nhịp thở. Khi thu vào giáng Khí xuống đồng thời với nhịp hít vào, khi đưa ra Khí thăng lên đồng thời với nhịp thở ra. Tóm lại trong nhịp hít vào, Khí đi từ trên xuống và từ ngoài vào trong cơ thể. Khi nén tụ lại phải nín thở, nghĩa là không thở trong trạng thái ép căng gân cơ. Động tác nén là tạo điều kiện cho sự tụ Khí được hoàn hảo. Muốn vận khí đi phải thực hiện trong nhịp thở ra. Và muốn tán xả ra ngoài phải thực hiện trong nhịp ngưng thở. Động tác này cũng là không thở nhưng thực hiện trong trạng thái thư giãn gân cơ ngược với trạng thái nén tụ. Vận khí ra rồi ngưng thở và thư giãn để tán xả ra ngoài. ảnh hưởng của nhịp thở đến hoạt động của nội tạng Khi hít vào sẽ kích thích hoạt động của tạng Tâm, Phế. Khả năng hít vào sâu, đều, chậm thì chứng tỏ hoạt động của Phế tốt, khả năng cung cấp dưỡng khí cho máu tốt, đồng thời điều tiết được nhịp tim ổn định. Nghĩa là hít vào tốt thì hoạt động của Tâm – Phế cũng tốt. Tương tự, khi nén tụ tốt thì kích thích hoạt động của Tỳ – Vị và hệ tiêu hóa tốt. Và thở ra tốt thì kích thích hoạt động của Can – Thận tốt. Khi ngưng thở thì kích thích hoạt động của hệ thần kinh. Nếu hệ thần kinh hoạt động kém thì phải luyện nhịp ngưng thở cho tốt vì hoạt động của hệ thần kinh bị ảnh hưởng do tán xả kém. Chính vì lẽ trên mà hơi thở trong Khí công được phân thành 4 chu kỳ, gọi là thở bốn thì. Chu kỳ hít – nén – thở – ngưng đó có thể đồ thị hóa thành một hình vuông đều cạnh, nghĩa là trường độ của các thì phải tương đương bằng nhau. Yêu cầu của hơi thở Khí công phải sâu, đều, chậm, nhẹ nhàng. Thở sâu trong nhịp hít vào thì mới tạo ra động năng đưa được nhiệt từ Tâm Tâm hỏa xuống Đan-điền để kích chưng Chân khí . Thở đều để tránh mọi rối loạn, để điều hòa theo tự nhiên mọi hoạt động của cơ thể. Thở chậm để tạo điều kiện về thời gian cho các quá trình sinh học trong cơ thể diễn ra được đầy đủ trao đổi, tương tác, phản ứng. Đặc biệt càng thở chậm bao nhiêu thì càng giảm được nhịp sinh học xuống bấy nhiêu. Hơi thở càng chậm thì quá trình lão hóa diễn ra trong cơ thể càng chậm bấy nhiêu. Hơn nữa hơi thở phải nhẹ nhàng để tránh đột biến, nhiều người không thở được nhẹ nhàng mà Khí bị trầm xuống không thông thoáng. Ngoài ra hơi thở phải đồng bộ với hoạt động của gân cơ trong cơ thể. Khi hít vào thì hệ thống gân cơ bị ép dần lại và căng dần lên. Khi nén tụ gân cơ ở trạng thái bị căng cực độ, khi thở ra thì trạng thái đó được giãn dần, và khi ngưng thở thì hệ thống gân cơ thư giãn hoàn toàn. Trong quá trình luyện thở 4 thì cần có sự nỗ lực và chuyên cần, mỗi ngày cố gắng một chút, ngày càng kéo dài chu kỳ hơi thở của mình lên. Khi mới tập thì có lẽ cảm thấy quá sức, nhưng càng tập càng thấy tốt dần lên. Mỗi ngày khi luyện thở cố lên một chút thì chính sự cố gắng này sẽ tạo ra phản ứng Khí hóa. Tuy nhiên trong quá trình luyện thở, luyện Khí phải tránh sự loạn động, cho nên chỉ cố một chút nếu quá đi sẽ sinh ra loạn khí. Hơi th ở mà loạn sẽ sinh ra loạn Tâm, mà hoạt động của Tâm bị rối loạn làm cho quá trình khí – huyết lên não bộ bị rối loạn và thay đổi theo. Từ đó dẫn đến rối loạn Tâm thức, Tâm thức mà rối loạn sẽ dễ dàng bị chi phối ảnh hưởng đến khả năng làm chủ của con người, kể cả khả năng làm chủ Khí. Muốn đinh Khí trước tiên Tâm phải định. Muốn tập trung được Khí thì hơi thở phải tập trung và Tâm phải tập trung tĩnh. Khí là một dạng bức xạ năng lượng, mà hoạt động của bức xạ năng lượng bào gồm hai thành phần động năng và thế năng. Động năng của Khí được tạo ra nhờ hơi thở. Còn thế năng được tạo ra nhờ sự quán khí. Muốn thực hiện quá trình thu hoặc vận khí, phải quán từ trên rất cao và từ dưới rất sâu để tạo ra thế năng cho quá trình đó. 2. Sự quán khí Đó là sự quán tưởng về sự hoạt động của quá trình khí. Quán là sự tập trung tư tưởng theo hơi thở. Quán tưởng có hai phương thức tụ quán và hành quán. Tụ quán là sự tập trung tư tưởng vào một vùng hay một điểm trên cơ thể. Càng tập trung tư tưởng bao nhiêu thì Khí lực trong cơ thể càng tập trung bấy nhiêu. Hành quán là tập trung tư tưởng đi theo một đường thường là theo đường kinh lạc trên cơ thể. Ví dụ theo mạch Nhâm từ trên xuống hoặc tuần tự theo các đại huyệt trên mạch Nhâm cũng từ trên xuống. Tương tự như vậy với các kinh lạc khác. Trong phương pháp tư tưởng của môn pháp Tĩnh Khí công thế tụ quán là tập trung vào một vấn đề, không để bị những vấn đề khác chi phối. Hành quán là tập trung vào một chương trình vào một quá trình, không để cho những chương trình khác hay quá trình khác làm cho ảnh hưởng. Đó là Tâm pháp. Sau đó phải có sự tưởng tượng, hình dung để tạo điều kiện cho những hưng phấn thần kinh tốt, tạo ra trạng thái gần như “tự kỷ ám thị”. Hưng phấn thần kinh là tạo ra năng lực hoạt động của Khí, tạo ra thế năng và động năng cho Khí. Hưng phấn thần kinh là cơ sở đầu tiên tạo điều kiện phát động Khí. Nhưng trong quá trình tạo ra hưng phấn thần kinh có lợi cho sức khỏe phải có sự định hướng mà không lụy vào nó. Sự tưởng tượng hình dung chỉ tồn tại trong giai đoạn hình như của quá trình làm chủ Khí mà thôi. Sang giai đoạn có lẽ và chắc chắn phải chủ động thoát ra khỏi sự tưởng tượng, mà thay bằng cảm nhận thực sự, bằng “chân giác”. Cuối cùng quá trình quán tưởng đó phải tập trung vào quá trình Khí, vào quá trình phát sinh, vận hành và biến vi hoạt dụng của Khí. Đưa vào quá trình Khí là đi vào theo các phác đồ, theo các chu trình hoạt động của Khí. Ví dụ như Chân khí được kích chưng phát sinh tại Đan-điền và vận hành trong Nhâm Đốc nhị mạch, đó là chu trình của Đan-điền 3. Khẩu quyết mật lệnh Đây là một trong những yếu tố quan trọng. Khẩu quyết là tiếng đọc thầm trong đầu, chủ động hướng dẫn về từng giai đoạn của một chu trình luyện Khí nào đó. Khẩu quyết chính là mã khóa tâm thức, là một phản xạ có điều kiện, đó là sự chương trình hóa một quá trình được lập đi lặp lại nhiều lần thành phản xạ có điều kiện. Các công pháp hay phương pháp đã được chương trình hóa, khi sử dụng chỉ cần đọc thầm khẩu quyết hay mã khóa tâm thức là có thể phát động được công pháp hay phương pháp đó. Nó đảm bảo tính thời gian kịp thời và hiệu quả cao. Khi chưa lập được chương trình hóa các công pháp hay phương pháp, nếu trường hợp bình thường và có sự chuẩn bị trước thì có thể vận dụng cho việc chữa trị được. Nhưng khi ngộ sự bất thường sẽ không kịp xử lý. Ví dụ như khi đang đi ngoài đường ngộ cảm, nếu chưa quen, chưa thành thạo vận dụng các bài điều trị, chưa có mã khóa tâm thức, chưa có chương trình hóa thì việc xử lý sẽ khó khăn và không kịp thời. Vì vậy phải có quá trình công phu luyện tập, làm sao có sẵn mã khóa tâm thức, có sẵn chương trình hóa cho mọi trường hợp. Chẳng hạn như luyện Đan-điền công, phải có công phu luyện đi luyện lại nhiều lần thì khi chỉ cần đọc khẩu quyết “Đan-điền sinh khí” là tất cả các quá trình “khai, thu, tụ” đã được làm xong, rất nhanh và hiệu quả cũng rất cao, chỉ cần đọc xong khẩu quyết đã cảm thấy trong bụng tại Đan-điền đã ấm nóng lên rồi. Sau khi sử dụng khẩu quyết quen rồi, quá trình Khí sẽ chuyển sang tự động hóa, khi chỉ nghĩ đến phát động Khí tại Đan-điền là đã cảm giác thấy nó ấm nóng lên rồi. Và khi tự động hóa đến mức cao độ thì không cần khẩu quyết, không cần suy nghĩ mà cơ thể vẫn tự hành động. Con người chuyên cần lắm, giỏi nhất mỗi ngày chỉ luyện được 4h, còn 20h nữa luyện cách nào. Nếu bất cẩn trong 20h đó sẽ phá hủy công quả của 4h đã luyện. Vì vậy phải làm cho cơ thể nhập được vào trạng thái luyện tự động để tâm trí cho những việc khác nữa. Hoặc luyện cho cơ thể thích nghi được với thời tiết khí hậu, thích nghi với môi trường ngoại cảnh, sao cho bất cứ điều kiện nào cũng không ảnh hưởng đến cơ thể. Như vậy mới thực sự là quá trình luyện đạt được kết quả cao. Quá trình luyện Khí công bắt đầu từ giai đoạn Tĩnh luyện, luyện tập trong trạng thái tĩnh, trong môi trường yên tĩnh. Khi tĩnh luyện đã đạt được kết quả nhất định sẽ chuyển sang giai đoạn Thiền luyện. Nghĩa là đưa cơ thể vào trạng thái tập trung cao độ, gạt bỏ được tất cả ảnh hưởng của ngoại cảnh. Nếu gặp được hoàn cảnh thuận tiện nhất là ở các vùng linh địa yên tĩnh, phải tập trung cao độ mà chuyên cần luyện tập để thu được kết quả cao. Tuy vậy con người bình thường vẫn là người xử thế, vẫn phải sống trong cuộc sống đời thường, vì vậy sau khi đã trải qua tĩnh luyện và thiền luyện cần phải chuyển qua giai đoạn tu tập mức độ cao hơn nữa là hành luyện. Nghĩa là ngay trong khi đang làm việc, đang đi trên đường mà luyện Khí được, vẫn thu vẫn hành vẫn xả. Tĩnh luyện, Thiền luyện và hành luyện vẫn là quá trình luyện khi cơ thể đang trong trạng thái thức. Nhưng còn tầm mức cao hơn nữa là mộng luyện, đó là luyện trong trạng thái ngủ. Đây là đưa quá trình luyện tập vào giấc ngủ để khai thác cơ chế vô thức. Chẳng hạn trước khi ngủ luyện bài Đan-điền công, sau khi kết thúc đọc khẩu quyết “Duy trì Đan-điền công” rồi đi ngủ. Như vậy trong giấc ngủ vẫn cảm giác được là mình đang điều khí. Phương pháp luyện đó gọi là mộng luyện. Đây là cơ chế tự động hóa cao nhất của quá trình luyện Khí. Đến lúc này con người có thể tùy thuộc vào điều kiện thực tại mà áp dụng các mức độ luyện tập, Tĩnh luyện, Thiền luyện, hay hành luyện hoặc mộng luyện. Qua thời gian luyện tập, sau khi đã đạt được một mức độ công năng nhất định, con người phải khai thác cơ chế hư tĩnh để dần dần đưa cơ thể vào trạng thái tiềm thức, vào trạng thái thiền định và trạng thái đại định. Trong trạng thái hư tĩnh sẽ sinh ra cơ chế tự động, tự động điều chỉnh, tự động chữa bệnh, tự động khai Công phu hay sự tu luyện chuyên cần là một điều cực kỳ quan trọng. Phải hiểu rằng mọi khả năng của Khí công đều được nẩy sinh trong quá trình thực hành và tu luyện, thực hành trong chính bản thân mình và với điều kiện ngoại cảnh. Khả năng, công năng và quyền năng của người luyện Khí công không phải bẩm sinh hay bỗng dưng mà có, mà phải do quá trình thực thụ tu luyện với bản thân và với các tác nhân, các đối tác. Đơn giản chẳng hạn như muốn xả khí lạnh thì phải cầm vào vật nóng mà xả, nghĩa là vừa xả bớt khí lạnh vừa thu khí nóng vào để cân bằng âm dương trong cơ thể. Tóm lại luyện Khí công khởi đầu là phải luyện thở 4 thì. Sau đó kết hợp thở 4 thì với quán tưởng hành luyện Khí, tiếp theo chuyển sang luyện quán tưởng cùng với khẩu quyết mà tạm quên đi hơi thở. Khi luyện đã tốt rồi thì chỉ cần luyện với khẩu quyết. Khi luyện với khẩu quyết có kết quả tốt thì sau đó là theo cơ chế luyện tự động. Ban đầu dùng hơi thở để tác động vào Khí và làm chủ Khí. Sau đó dùng tâm ý làm chủ Khí đồng thời làm chủ luôn cả hơi thở, khi đó hơi thở đi vào trạng thái tự động hóa. Tiến tới mức cao hơn nữa khi muốn thu Khí vào là hệ thống gân cơ trong cơ thể tự động nén lại và căng lên để Khí đi vào cơ thể, đồng thời nhịp thở cũng tự nhiên ở trạng thái hít vào. Khi muốn vận khí đi là nhịp thở tự nhiên ở trạng thái thở ra, đồng thời cơ thể tự động dãn hệ thống gân cơ và Khí sẽ dễ dàng vận hành theo ý muốn. Khi muốn tán xả cơ thể tự nhiên ngưng thở, hệ thống gân cơ tự động thư giãn hoàn toàn. Như vậy tuần tự các bước luyện trước hết lấy hơi thở làm chủ Khí, sau đó lấy Khí làm chủ hơi thở rồi làm chủ tất cả, bao trùm lên toàn bộ từ đầu đến cuối là Tâm ý phải luôn luôn làm chủ tất cả.
luyện khí công 6 hơi thở