lý thuyết và thực hành

Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro. Các ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình chỉ được phép chấp nhận các loại, mức độ rủi ro mà thiệt hại khi chúng xảy ra ở mức không được cao quá mức thu nhập phù hợp. Có nghĩa rằng, tất cả các loại rủi ro có mức độ rủi ro cao hơn mức độ thu nhập mong đợi cần phải được loại bỏ. Lý thuyết thực hành dược liệu. Term. 1 / 37. Định lượng các chất chiết được trong Dược liệu. Click the card to flip 👆. Definition. 1 / 37. Là xác định hàm lượng % các chất chiết được trong dược liệu trong những điều kiện quy định. Click the card to flip 👆. Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có một thực tế là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý thuyết gắn kết với thực hành chưa thực sự được chú trọng đầy đủ và thực hiện nghiêm túc trong nền giáo dục nói chung, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng. Vay Tiền Online Cấp Tốc 24 24. NGUYỄN HOÀI NGUYÊNTHỰC HÀNHVĂN BẢN TIẾNG VIỆTNGHỆ AN, 2012MỤC LỤCChương 1. Khái quát về tiếng Việt và bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt Khái quát về tiếng Việt Tiếng Việt và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Vai trò của tiếng Việt Đặc điểm của tiếng Việt Bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt Mục đích, yêu cầu Các nội dung cơ bản của môn học Chương 2. Thực hành phân tích và tạo lập văn bản Khái quát về văn bản Khái niệm và những đặc điểm chính của văn bản Đơn vị văn bản và các loại quan hệ trong văn bản Phân loại văn bản Thực hành phân tích văn bản khoa học Một số vấn đề về phân tích văn bản Thực hành phân tích văn bản khoa học Thực hành tạo lập văn bản thông dụng Một số vấn đề chung Thực hành tạo lập văn bản thông dụng Chương 3. Thực hành phân tích và tạo lập đoạn văn Giản yếu về đoạn văn Khái niệm, đặc điểm Câu chủ đề của đoạn văn Cấu trúc của đoạn văn Lập luận trong đoạn văn Thực hành phân tích đoạn văn Lưu ý khi phân tích đoạn văn Thực hành phân tích đoạn văn Thực hành tạo lập đoạn văn LỜI GIỚI THIỆUHiện nay, trong khung chương trình đào tạo của một số trường đại học, môn Thực hành văn bản tiếng Việt hay Tiếng Việt thực hành , có thể là một môn bắt buộc, có thể là một môn tự chọn. Dù xây dựng chương trình theo hướng nào, thì có một một thực tế đặt ra nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong giap tiếp và học tập cho sinh viên là một công việc không thể xem nhẹ. Đối với những sinh viên theo học các ngành khoa học xã hội và nhân văn, tri thức tiếng Việt là một phần quan trọng không chỉ trong quá trình học tập các bộ môn ở trường đại học mà còn là hành trang gắn với nghề nghiệp được đào tạo. Với sinh viên các khoa thuộc khoa học tự nhiên – kỹ thuật – công nghệ, các kĩ năng tiếng Việt cũng không hề xa lạ, bởi tiếp nhận và tạo lập các văn bản khoa học là công việc phải tiến hành thường xuyên. Xuất phát từ thực tế đó, tiến sĩ Nguyễn Hoài Nguyên đã biên soạn giáo trình Thực hành văn bản tiếng Việt. Giáo trình được triển khai trong 5 chương, trình bày theo hướng đi từ văn bản – đơn vị giao tiếp – đến các đơn vị bộ phận như đoạn văn , câu , từ ngữ , chữ viết và chính tả. Với mỗi chương, tác giả trình bày những vấn đề lí thuyết cơ bản, ngắn gọn, cô đúc và làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết bằng việc phân tích những ngữ liệu cụ thể, phù hợp. Bài tập trên lớp và bài tập về nhà của từng chương là những phần thiết yếu, giúp người học không những củng cố tri thức, mà quan trọng hơn, có thể tự thực hành các kỹ năng, đáp ứng các yêu cầu về sử dụng tiếng Việt. Việc phân bố thời gian học trên lớp gồm lý thuyết và thực hành và học ở nhà ôn tập lý thuyết và làm bài tập là sự định hướng hết sức cần thiết để người học có kế hoạch thực hiện chương trình, đáp ứng yêu cầu học tập theo học chế tín chỉ. Biên soạn giáo trình này, người viết ít nhiều có sự kế thừa kinh nghiệm của những người đi trước tác giả của những cuốn Tiếng Việt thực hành từng được in ấn và phát hành thời gian qua. Tuy nhiên, với mục đích và đối tượng được xác định cụ thể, giáo trình này chắc chắn sẽ là học liệu cần thiết cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho những giáo viên dạy thực hành tiếng Việt trong nhà trường. Xin trân trọng giới thiệu cuốn Thực hành văn bản tiếng Việt của tiến sĩ Nguyễn Hoài Nguyên với độc giả. TS. Đặng Lưu Giảng viên bộ môn Ngôn ngữ Khoa Ngữ văn, Trường đại học VinhChương 1. KHÁI QUÁT VỀ TIẾNG VIỆT VÀ BỘ MÔN THỰC HÀNH VĂN BẢN TIẾNG VIỆT1. KHÁI QUÁT VỀ TIẾNG VIỆT1. Tiếng Việt và vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Cuộc sống của con người luôn gắn với hoạt động giao tiếp, trong đó, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng bậc nhất. Thế nhưng, chúng ta chưa hiểu chính xác là đã nắm được ngôn ngữ như thế nào, đã nhận thức thế giới nhờ ngôn ngữ ra sao. Ngôn ngữ đến với mỗi người bình thường, tự nhiên đến mức ít ai tự hỏi ngôn ngữ là gì. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, lưu trữ và truyền đạt truyền thống lịch sử - văn hóa của một cộng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói đến ngôn ngữ là nói đến các ngôn ngữ cụ thể của các dân tộc với tư cách là phương tiện giao tiếp, chẳng hạn tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt , v.. Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt còn gọi người Kinh, là tiếng phổ thông của các dân tộc thiểu số và là ngôn ngữ quốc gia Việt Nam. Tiếng Việt của chúng ta giàu và đẹp. Tiếng Việt rất giàu, bởi nó thể hiện đời sống muôn màu, đời sống tư tưởng và tình cảm phong phú của dân tộc ta; bởi nó phản ánh kinh nghiệm đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm suốt hàng nghìn năm lịch sử. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp, bởi là thứ tiếng có nhiều nguyên âm và thanh điệu nên rất mềm mại, uyển chuyển, du dương nói mà như hát. Tiếng ta đẹp còn bởi có lớp từ láy, các tổ hợp từ cố định thành ngữ thể hiện sự đăng đối, hài hòa, gợi hình, gợi cảm. Tiếng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi cuộc sống của nhân dân ta từ ngàn xưa tới nay là cao quý. Vẻ giàu đẹp của tiếng Việt được khúc xạ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân, trong các thành ngữ, tục ngữ, ca dao, trong các áng văn chương của những nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Chẳng hạn Hỡi cô tát nước bên đàng // Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi Ca dao; hay Long lanh đáy nước in trời // Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng Nguyễn Du - Truyện Kiều. Tiếng Việt hiện nay, nhìn chung, có thể diễn tảc. Phục vụ công tác hành chính - pháp luật Chức năng phục vụ công tác hành chính - pháp luật của tiếng Việt cũng được mở rộng gấp nhiều lần so với trước. Tất cả các văn bản pháp quy hiến pháp, các bộ luật, pháp lệnh, quyết định, nghị định, chỉ thị, thông tư, công văn, báo cáo, v., mọi sự thảo luận, công bố từ Quốc hội, Chính phủ đến hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, từ Trung ương đến địa phương đều được soạn thảo bằng tiếng Việt. d. Tiếng phổ thông cho các dân tộc thiểu số Trước đây, tiếng Việt được các dân tộc thiểu số biết đến nhưng trong phạm vi hẹp. Từ sau năm 1945, Việt Nam là quốc gia gồm 54 dân tộc anh em cùng chung vận mệnh, cùng chung mục tiêu phấn đấu nên sự giao lưu, tiếp xúc giữa các dân tộc ít người với dân tộc Việt Kinh, giữa các dân tộc ít người với nhau chặt chẽ hơn các thời kì trước. Thêm nữa, chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước hết sức đúng đắn, đó là chính sách bình đẳng và tự nguyện. Do đó, thực tế, các dân tộc ít người vừa sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình, vừa tự nguyện dùng tiếng Việt để giao tiếp. Như vậy, chức năng xã hội của tiếng Việt được mở rộng thêm làm công cụ giao tiếp của tất cả các dân tộc sống chung trên lãnh thổ Việt Nam. Tiếng Việt có điều kiện ảnh hưởng tới sự phát triển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. e. Chất liệu của sáng tạo nghệ thuật Trước cách mạng, nền văn học Việt Nam thực sự phát triển song đó là một nền văn học chưa thực sự mang tính dân tộc. Các tác phẩm văn chương vừa được sáng tác bằng chất liệu tiếng Việt văn học dân gian, các tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, v., vừa bằng ngôn ngữ xa lạ với ngôn ngữ quần chúng tiếng Hán - Việt, chữ Hán. Sau cách mạng, một nền văn học mới đã hình thành. Nó phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ, khắc họa những hình tượng sâu sắc bằng chất liệu tiếng Việt. Vì thế, tiếng Việt - yếu tố thứ nhất của văn học - đã trở thành một ngôn ngữ toàn năng của một nền văn học đa dạng, phong phú, hiện đại. g. Công cụ truyền thông, xuất bản Dưới chế độ cũ, báo chí truyền thông, xuất bản có phần xa lạ đối với quần chúng nhân dân. Từ sau cách mạng, sự nghiệp báo chí, truyền thông đại chúng và xuất bản bằng tiếng Việt đã phát triển mạnh mẽ. Do đó, tiếng Việt mở rộng thêm chức năng xã hội làm công cụ của công tác thông tin đại chúng, phát triển sự nghiệp báo chí và xuất bản. Thể hiện nếp nghĩ, tình cảm, tâm hồn dân tộc a. Tiếng Việt thể hiện cách nghĩ, cách cảm của người Việt NamSuy nghĩ của mỗi người bao giờ cũng xuất phát từ ngôn ngữ, do ngôn ngữ mẹ đẻ quyết định. Tiếng Việt ngày nay có thể biểu đạt đầy đủ các giá trị tinh thần của một dân tộc đã đạt tới trình độ văn hóa tương đối cao, có khả năng ảnh hưởng tới văn hóa của một số dân tộc khác. Tiếng Việt là một ngôn ngữ phát triển hoàn thiện vì nó thỏa mãn mọi nhu cầu giao tiếp xã hội, thể hiện một cách sâu sắc nếp nghĩ, cách cảm, khát vọng của con người Việt Nam. Có thể thấy rõ điều đó trong các sáng tác dân gian như tục ngữ, ca dao, hò vè, v. hoặc trong các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ. Đó chính là lời ăn tiếng nói của nhân dân kết tinh từ bao đời, thể hiện trí tuệ và tâm hồn của người Việt. b. Tiếng Việt chứa đựng văn hóa dân tộc Ngôn ngữ là một thành tố của văn hóa, nhưng đồng thời cũng là địa chỉ của văn hóa. Thực tế, tiếng Việt thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Cuộc sống, lịch sử, kiểu lựa chọn của cộng đồng trong tất cả các lĩnh vực xã hội đều được khúc xạ trong tiếng Việt, qua các bình diện ngữ âm giàu nhạc tính, từ vựng đa dạng, phong phú, mở, ngữ pháp mềm dẻo, linh hoạt. 1. Đặc điểm cơ bản của tiếng Việt Tiếng Việt là ngôn ngữ âm tiết tính, đa thanh điệu a. Đặc điểm âm tiết tính được thể hiện ở các khía cạnh sau Trong dòng âm thanh, các âm tiết được phát âm thành những khúc đoạn riêng rẽ, tách bạch có đường ranh giới dứt khoát, rõ ràng, không đọc nối như tiếng Nga, tiếng Anh, v.. Còn khi viết, các âm tiết được viết rời giữa các con chữ ghi âm tiết có khoảng cách đều nhau, không viết liền. So sánh từ sinh viên, trong tiếng Việt, đọc/ phát âm rời thành hai đoạn âm sinh / viên và viết rời; trong tiếng Anh, cũng hai âm tiết nhưng đọc/ phát âm nối liền, viết liền student. Âm tiết tiếng Việt, phần lớn trùng với đơn vị nhỏ nhất mà có nghĩa, tức hình vị; đồng thời, những đơn vị ấy có thể vận dụng độc lập để đặt câu, nghĩa là ranh giới âm tiết, hình vị và từ đơn tiết trùng nhau ví dụ nhà, xe, ăn , học, tốt, xấu, v .. Do vậy, âm tiết, còn gọi là tiếng, vừa có thể là từ nên có tính tự lập. So sánh tiếng Việt cậu / bé hai âm tiết = 2 hình vị; tiếng Anh boy / s và [b฀jz] 2 hình vị, 1 âm tiết. b. Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu, gồm 6 thanh tiếng Lào có 5 thanh, tiếng Hán 4 thanh, tiếng Miến Điện 3 thanh. Ví dụ ma, mà, mã, mả, má, mạ. Thanh điệu là đặc trưng độ cao và có tác dụng khu biệt nghĩa cho các âm tiết, góp phần quan trọng làm nên nhạc tính cho tiếng Việt. Yêu cầu Người học có thái độ học tập đúng đắn, nắm vững mục đích của môn học Thực hành văn bản tiếng Việt để xác định phương pháp học tập phù hợp. Có ý thức tự giác, nghiêm túc rèn luyện kĩ năng thực hành phân tích và tạo lập văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ; thực hiện đầy đủ các nội dung thảo luận và bài tập thực hành trên lớp và ở nhà. Chú trọng rèn luyện kĩ năng phân tích và tạo lập các loại văn bản nhật dụng, văn bản chuyên ngành. Có khả năng phát hiện và sửa chữa các loại lỗi của văn bản. 2. Các nội dung cơ bản của môn học Về nội dung của môn học, ngoài những nội dung chính theo chương trình chung của Bộ giáo dục và đào tạo, giáo trình này, chúng tôi còn chú ý đến những lỗi sử dụng ngôn ngữ mà sinh viên thường hay mắc phải trong việc tiếp nhận và tạo lập văn bản. Ngoài chương 1 trình bày những kiến thức nhập môn, các nội dung chính trình bày trong bốn chương tiếp theo Chương 2. Thực hành phân tích và tạo lập văn bản , trình bày giản yếu về văn bản khái niệm, đặc trưng, các loại văn bản; trọng tâm thực hành là kĩ năng phân tích và tạo lập văn bản, chú trọng văn bản hành chính và văn bản khoa học. Chương 3. Thực hành phân tích và xây dựng đoạn văn , thuyết minh vắn tắt lí thuyết đoạn văn khái niệm, cấu trúc, câu chủ đề, các loại đoạn văn; tập trung cho việc rèn luyện kĩ năng tổ chức đoạn và liên kết đoạn. Chương 4. Luyện câu trong văn bản , trình bày sơ lược lí thuyết về câu các loại câu về cấu trúc và mục đích giao tiếp, câu và phát ngôn, biến đổi câu; rèn luyện viết câu trong văn bản, phát hiện lỗi và sửa chữa câu sai. Chương 5. Rèn luyện dùng từ và chính tả , tập trung rèn luyện các thao tác dùng từ lựa chọn, thay thế; rèn luyện viết đúng chính tả trong văn bản; phát hiện và sửa chữa các lỗi dùng từ và chính tả. **CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH Phần thảo luận và thực hành trên lớp** Tại sao nói Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ? Nêu vị thế của tiếng Việt trong các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam. Trình bày vai trò của tiếng Việt. Liên hệ việc sử dụng tiếng Việt trong nói/ viết hàng ngày của bản thân. Phân tích các đặc điểm cơ bản của tiếng Việt có dẫn chứng minh họa. Phân tích và chứng minh câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, bảo vệ nó, làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp. Trình bày cách hiểu của anh/ chị về câu Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Nêu những câu tục ngữ, ca dao, châm ngôn, những thành ngữ nói về ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ. *** Phần tự học ở nhà** Nêu nhận thức của anh/ chị về bộ môn Thực hành văn bản tiếng Việt. Những định hướng của anh/ chị khi học bộ môn này. Đọc các văn bản/ đoạn trích sau đây để cảm nhận tiếng Việt giàu đẹp, có bản sắc riêng. a. Đồng đăng có phố Kì Lừa , Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh. Ai lên xứ Lạng cùng anh, Bõ công bác mẹ sinh thành ra em. Tay cầm bầu rượu, nắm nem, Mảng vui quên hết lời em dặn dò Ca daob. KIỀU TIỄN BIỆT THÚC SINH Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san Dặm hồng bụi cuốn chinh an Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường! Nguyễn Du - Truyện KiềuÔi nàng năm xưa quên lời thề Hoa vừa đương hương gây đê mêCây đàn yêu đương làm bằng thơ Dây đàn yêu đương run trong mơ Hồn về trên môi kêu em ơi Thuyền hồn không đi lên chơi vơiTôi qua tim nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung thương Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng Tình tang tôi nghe như tình langYêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi Tìm đâu đào nguyên cho xa xôi Đào nguyên trong lòng nàng đây thôiThu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu Sao tôi không màng kêu em yêu Trăng nay không nàng như trăng thiu Đêm nay không nàng như đêm hiuBuồn lưu cây đào xin hơi xuân Buồn sang cây tùng thăm đông quân Ô hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mônge. CÁT ĐỢI Nguyễn Việt Chiến Cát chiều nay sẫm bên sông Thương con đò ngược mùa đông chưa vềLối mòn bạc cỏ chân đê Chiều mòn rỗng tiếng chim gì kêu đau Sóng đem từ bến sông nào Theo trăng về thức dưới màu mây xưa Tôi hoang vu, cát hoang vu Trăng là người khách qua đò đêm nay Cô đơn xuống một đò đầy Tôi chờ em phía bên này mùa đông Cát còn bay trắng bên sông Người còn đi trắng mùa mong ước này Tôi cầm hạt cát trên tay Đêm không còn ấm như ngày có em Tôi cầm cả chính tôi lên Câu thơ nhặt được phía miền quạnh hiu Câu thơ như cát mỗi chiều Mang theo chút ấm nắng nghèo vào đêmPHẦN HƯỚNG DẪN HỌC TẬP CHƯƠNG 1 1. Tài liệu cần đọc 1 Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Văn Nguyên, Tiếng Việt thực hành , Nxb Nghệ An, 2009, từ trang 7 đến trang 13. 2 Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt thực hành , Nxb Giáo dục, H. 1997, từ trang 8 đến trang 21. 2. Nội dung trọng tâm cần nắm - Vai trò và các đặc điểm cơ bản của tiếng Việt. - Mục đích, yêu cầu và nội dung chương trình môn học 3. Cách tổ chức học - Trên lớp nghe giảng, thảo luận nhóm các nội dung thảo luận thực hành tại lớp. - Tự học làm các bài tập ở cuối bài hiểu các ví dụ trên, ta thấy ở mỗi chuỗi câu đều có nhiều câu; mỗi câu trong đó đều có nghĩa, thể hiện một thông báo nhất định; các câu đều đúng ngữ pháp. Nhưng hai chuỗi câu trên có nhiều điểm khác nhau ở 1 là chuỗi câu, trong đó, mỗi câu diễn đạt một ý nhưng các ý lan man không tạo nên thông tin hoàn chỉnh; còn ở 2 là chuỗi câu, mỗi câu là một ý nhưng các ý liên quan với nhau, đều hướng đến một nội dung khái quát tạo nên một thông tin trọn vẹn, logic. Còn nữa, ở 1 chưa có hình thức hoàn chỉnh, chỉ là một tập hợp câu đứng cạnh nhau; trong khi đó, ở 2 có hình thức rõ ràng, mạch lạc và hoàn chỉnh có tiêu đề, có phần mở, phần thân và phần kết. Chuỗi 2 có thể dùng để giao tiếp mà không một điều kiện nào khác. Có thể xem chuỗi 2 là một văn bản. Như vậy, các câu đúng và độ dài không phải là điều kiện quyết định một chuỗi câu nào đó thành văn bản. Văn bản phải là một tập hợp câu kết hợp theo một phương thức nhất định nhằm xác lập một thông tin trọn vẹn. b. Định nghĩa văn bản Hiện tại, khái niệm văn bản được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, văn bản chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở cả hai hình thức nói và viết; còn theo nghĩa hẹp, văn bản chỉ sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ tồn tại ở dạng viết. Liên quan đến văn bản còn có các khái niệm ngôn bản, diễn ngôn, v.. Có thể định nghĩa văn bản như sau Văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu tồn tại ở dạng viết, thường là một tập hợp câu có tính liên kết chặt chẽ, trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, độc lập trong giao tiếp và có một hướng đích nhất định. Những đặc điểm chính của văn bản a. Tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức Văn bản là một thể thống nhất hoàn chỉnh về nội dung và hình thức. Về nội dung, văn bản là đơn vị lời nói có nội dung thông tin trọn vẹn làm cho người khác hiểu được một sự việc, một tư tưởng hay một tình cảm nào đó, tức là có tính nhất quán về chủ đề. Về hình thức, văn bản có kết cấu hoàn chỉnh gồm tiêu đề, các phần mở đầu, triển khai và kết thúc; có hàng loạt các dấu hiệu liên kết ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, v. để biểu thị mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các tạo tố, các thành tố, các phần trong tính chính thể văn bản. b. Tính liên kết chặt chẽ, mạch lạc Liên kết chỉ có ở cấp độ văn bản, là thuộc tính đặc thù của văn bản. Liên kết, đó là mạng lưới các mối quan hệ qua lại giữa các câu, các đoạn, các phần của văn bản. Liên kết văn bảnthể hiện ở hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức. Liên kết nội dung là mạng lưới liên hệ về logic và ngữ nghĩa giữa các câu, các đoạn, các phần hướng về cùng một chủ đề. Nếu không có liên kết nội dung thì văn bản sẽ mắc lỗi chủ đề, hoặc lỗi logic. Liên kết hình thức là sử dụng các phương thức và phương tiện ngôn ngữ để gắn các câu thành đoạn, các đoạn thành các phần, các phần thành văn bản. Liên kết hình thức là để phục vụ liên kết nội dung. c. Tính hướng đích Mỗi văn bản đều hướng tới một mục đích nhất định. Mục đích của văn bản có thể được bộc lộ một cách trực tiếp thông tin hiển ngôn, hoặc gián tiếp thông tin hàm ngôn. Cách bộc lộ trực tiếp và/hoặc gián tiếp chi phối cách tổ chức văn bản việc chọn và cách thức tổ chức các chất liệu nội dung, việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ. 1. Đơn vị của văn bản và các loại quan hệ trong văn bản Đơn vị của văn bản Không tính đến các văn bản đặc biệt kiểu như Uống nước nhớ nguồn tục ngữ, Hỡi cô tát nước bên đàng // Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi ca dao, hoặc các văn bản có độ dài gồm nhiều tập sách, như Những người khốn khổ tiểu thuyết, 4 tập v. thì văn bản là một cấu trúc gồm các tổ hợp đoạn, mục, chương, phần , trong đó, tổ hợp đoạn có tính thông dụng và định hình nhất. Ở dạng nói, đoạn được gọi là đoạn lời, còn ở dạng viết, đoạn được gọi là đoạn văn. Nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản cho rằng đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo lập văn bản, vừa phụ thuộc vừa có tính độc lập trong cấu trúc văn bản. Các loại quan hệ của văn bản a. Quan hệ hướng nội Quan hệ hướng nội là quan hệ trong nội tại văn bản. Đó là quan hệ giữa các câu, các đoạn, các phần, quan hệ giữa các thành tố nội dung chi tiết với các chủ đề bộ phận và giữa các chủ đề bộ phận với chủ đề văn bản. Tìm hiểu ví dụ sau BIỂN ĐẸP 1 Biển nhiều khi cũng đẹp, một vẻ đẹp nồng nàn, đắm say. Nếu chú ý quan sát, ta sẽ lí giải được vì sao biển đẹp. 2 Buổi sớm nắng sáng, những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào, hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh. Bọt sóng trắng xóa mênh mông. Có buổi sớm nắng mờ, biển bốc hơi nước, không nom thấy núi xa, chỉ một màu trắng đục. Không có thuyền, không có sóng, không có mây, không có sắc biếc của da và giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, giữa các tổ chức với nhau, và với nhân dân, v. Các loại văn bản hành chính gồm văn bản quy phạm pháp luật hiến pháp, các bộ luật, nghị định, chỉ chị, thông tư, v., văn bản chuyên môn gắn với các lĩnh vực, các ngành, văn bản hành chính thông thường đơn từ, biên bản, đề án, hợp đồng, báo cáo, công văn, văn bằng, chứng chỉ, v.. Đặc điểm cơ bản của văn bản hành chính tính quy phạm, khuôn mẫu; tính chính xác, minh bạch và nghiêm túc; tính hiệu lực cao. Đặc điểm ngôn ngữ Về từ ngữ, sử dụng phổ biến các danh từ riêng, các tổ hợp từ chỉ tên riêng chỉ người, tổ chức, địa danh, tên người gọi theo chức trách trong quan hệ hành chính - công vụ, v.; sử dụng thường xuyên các quán ngữ, những từ ngữ thuộc thể thức công vụ; sử dụng phổ biến lớp từ Hán-Việt. Từ ngữ được sử dụng đòi hỏi chính xác, chặt chẽ, đơn nghĩa, trung hòa biểu cảm. Về cú pháp và diễn đạt, chỉ sử dụng câu tường thuật và câu cầu khiến; có thể sử dụng kết hợp câu đơn và câu phức, dùng câu không đầy đủ thành phần ngữ pháp; có thể có những quy định về chữ viết, cách bố trí văn bản. Văn bản hành chính thường trình bày theo lối diễn dịch, hoặc quy nạp. b. Văn bản khoa học Văn bản khoa học là những văn bản phản ánh hoạt động trí tuệ, nhận thức, có chức năng chủ yếu là thông báo và chứng minh, dùng trong lĩnh vực hoạt động khoa học. Các loại văn bản khoa học gồm các văn bản chuyên sâu công trình khoa học, chuyên luận, luận án, luận văn, v.; các văn bản giáo khoa giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu dạy học, tài liệu tham khảo trong nhà trường, v.; các văn bản phổ cập khoa học bài báo, tài liệu phổ biến, thông báo khoa học, v.. Đặc điểm của văn bản khoa học Văn bản khoa học có tính trừu tượng - khái quát, bởi chức năng của nó là thông báo, chứng minh chân lí, những tính quy luật phát hiện bằng tư duy khoa học. Văn bản khoa học còn có tính chính xác - khách quan và tính logíc nghiêm ngặt duy lí vì nó được xây dựng bằng những phán đoán, suy lí chính xác, logíc. Đặc điểm ngôn ngữ Về từ ngữ, các từ ngữ có nghĩa chính xác, đơn nghĩa, trung hòa về biểu cảm; sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành, những từ công cụ, từ có nghĩa trừu tượng. Từ loại được dùng phổ biến là danh từ xu hướng định danh hóa các sự kiện, hoạt động, tính chất, v. và đại từ thường mang ý nghĩa khái quát, dùng chủ yếu ngôi ba và ngôi nhất số nhiều. Về cú pháp, câu văn có kết cấu chặt chẽ, rõ ràng có thể dùng cả câu khuyết chủ ngữ hoặc chủ ngữ không xác định; sử dụng chủ yếu câu tường thuật. Loại câu phức hợp, đặc biệt loại câu ghép chính phụ có các cặp quan hệ từ hô ứng chỉ quan hệ nguyên nhân, nhượng bộ, tăng tiến, v. cũng được sử dụng rộng rãi. Về kết cấu và diễn đạt, văn bản khoa học thường được xây dựng theo một thể thức nghiêm ngặt chẳng hạn, một bài báo có các phần 1/ tính thời sự của vấn đề, 2/ trình bày hệ thống nội dung vấn đề kèm theo phân tích, lí giải, nhận xét, 3/ đưa ra những kết luận hệ quả của phần thứ hai. Diễn đạt trong văn bản khoa học phải mạch lạc, khúc chiết, logíc. c. Văn bản chính luận Văn bản chính luận là loại văn bản trình bày, giải thích, đánh giá, bày tỏ thái độ đối với những vấn đề nảy sinh trong đời sống chính trị - xã hội chiến tranh, hòa bình, lẽ sống, hạnh phúc, lao động, môi trường, v.. Văn bản chính luận có chức năng thông tin, tuyên truyền, thuyết phục, đem lại cho người tiếp nhận một cách nhìn, một thái độ. Các loại văn bản chính luận gồm các văn bản hiệu triệu báo cáo chính trị, cương lĩnh của một tổ chức, tuyên ngôn độc lập, lời kêu gọi, v.; các văn bản bình giá bình luận, xã luận trên các phương tiện truyền thông, các ý kiến tham luận đại hội, hội nghị, mít tinh, v.. Đặc điểm của văn bản chính luận Văn bản chính luận có các đặc điểm là tính bình giá công khai tính khuynh hướng, tính lập luận chặt chẽ thuyết phục người đọc/người nghe bằng những lí lẽ sắc bén, những dẫn chứng xác thực, sắp xếp bằng một trình tự mạch lạc và tính biểu cảm người viết/nói bộc lộ cảm xúc chân thành, sâu sắc qua các cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh. Đặc điểm ngôn ngữ Về từ ngữ, ngoài lớp từ toàn dân, còn dùng phổ biến lớp từ chính trị, lớp từ có tính chất thuật ngữ của các ngành khoa học; có thể sử dụng lớp từ ngữ giàu màu sắc tu từ từ khẩu ngữ, từ sách vở. Về cú pháp và diễn đạt, dùng nhiều câu tường thuật và câu cầu khiến không dùng câu hỏi và câu cảm thán; kết hợp linh hoạt câu ngắn và câu dài khẳng định, đánh giá dùng câu ngắn, còn trình bày, bàn luận dùng câu dài. Về cách diễn đạt, văn bản chính luận, một mặt, đòi hỏi trình bày vấn đề mạch lạc, logíc, mặt khác, có thể sử dụng các phương tiện biểu cảm so sánh, ẩn dụ, hoán dụ tu từ, v., các biện pháp tu từ lặp cú pháp, sóng đôi, v.. Rate this post Đánh giá mối liên hệ thực tế và lý thuyết trong báo cáo giải trình tốt nghiệp số 1 Sau 4 năm học tập ở trường và 5 tháng thực tập ở công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn TMDV XYZ, em nhận thấy lí thuyết và thực hành thực tế phải luôn song song với nhau, lí thuyết là nền tảng cho thực tiễn và thực tiễn cũng là hiệu quả của việc vận dụng thuần thục lý thuyết. Ở công ty việc làm của em là tìm kiếm đối tác chiến lược, nghiên cứu và phân tích thị trường, thiết lập mối quan hệ với người mua, phân tích số liệu, khảo sát thị trường qua những số lượng. Mà ở truờng thường những số liệu này đã có sẵn và chỉ thống kê giám sát, chỉ khi đi thực tập, cọ xát với trong thực tiễn thì em mới thấy đươc cần có nhiều kĩ năng, cũng như phải vạch trước kế hoạch thì khi bắt tay triển khai mới mong đạt đựoc hiệu suất cao .Để đat đựơc hiệu suất cao, ngoài những kỹ năng và kiến thức ở trường em còn phải trang bị cho mình kỹ năng và kiến thức mềm, đó là những kỹ năng và kiến thức học hỏi trong thực tiễn và biến chúng thành thế mạnh cho bản thân mình. Như là kiến thức và kỹ năng thao tác nhóm, kiến thức và kỹ năng phát minh sáng tạo, tư duy, quan sát, kỹ năng và kiến thức tiếp xúc, thuyết trình ..Các môn học trên giảng đường ĐH đã trang bị những kỹ năng và kiến thức cơ bản để thao tác như thể Môn phân tích tài chính doanh nghiệp giúp em có những kiến thức chung về thị trường tài chính cũng như kiến thức chuyên môn về tài chính doanh nghiệp như là phân tích tài chính, hoạch định chiến lược và quản trị tài chính. Phân tích các tỷ số tài chính, qua đó biết được tình trạng của công ty đang ở mức nào để đưa ra những giải pháp và kiến nghị hợp lý. Môn tin học căn bản giúp em trong quá trình làm báo cáo tốt nghiệp, tính tóan các số liệu trong bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo hoạt động kinh doanh bằng excel một cách nhanh chóng và soạn thảo những hợp đồng hay bảng khảo sát cho công ty trong quá trình nghiên cứu thị trường. Môn anh văn chuyên ngành giúp em đọc các tài liệu nước ngoài về tài chính để có những kiến thức mở rộng để làm bái báo cáo được tốt hơn. Cùng những kiến thức từ tất cả các môn học khác, đều được em vận dụng tối đa, để có thể hoàn thành mọi công việc một cách tốt nhất, hoàn thiện nhất. Trên đây là mẫu Đánh giá mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn trong báo cáo số 1, nếu chưa đạt yêu cầu mà form của các bạn thì tham khảo thêm mẫu Đánh giá mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn trong báo cáo thực tập dưới đây tiếp nhé Xem thêm Đánh giá mối liên hệ trong thực tiễn và lý thuyết số 2 a. Một số trường hợp Tình huống thứ nhất Tại Công ty Là nhân viên đang thực tập tại công ty. Giờ làm việc đúng 8h, nhưng đi muộn 10-15 phút, với lý do đơn giản là chưa ký hợp đồng chính thức. Vì tính chất công việc cô thường xuyên phải xuống phòng tư liệu. Nội quy của công ty quy định rõ là cấm nhân viên không đeo thẻ được vào. Tuy nhiên, một lần vì cần gấp một số tài liệu quan trọng cho bản hợp đồng với khách, vội lấy thẻ của một đồng nghiệp ở trên bàn. Khi bị nhân viên quản lý tư liệu phát hiện ra, bị cảnh cáo trừ lương 2 ngày. Tại Trường học Đi trễ 10 -15p chỉ bị các giảng viên nhắc nhở nhẹ Sinh viên ra vào trường có thể lấy thẻ của sinh viên khác vào trường do số lượng sinh viên khá đông nên bảo vệ khó kiểm soát và khi bị phát hiện thì chỉ bị phạt nhẹ, trừ điểm rèn luyện Có sự khác biệt như vậy là do tính chất công việc và học hành khác nhau, Công ty mang tín cưỡng chế bắt buộc người lao động phải thực hiện theo vì nó liên quan đến nhiều người trong công ty, một người không tuân thủ nội quy sẽ không phù hợp làm việc với công ty và công ty hoàn toàn có quyền sa thải, về trường học, sinh viên đóng tiền học và những lỗi đi trễ, quên mang thẻ…. Không mang tính chất nghiêm trọng khi đi làm Giải pháp Thời gian thực tập bao giờ cũng rất quan trọng, nó là cơ sở để cấp trên đánh giá con người, tác phong chấp hành kỷ luật. Vì thế, cần tuân thủ những quy định ghi trong nội quy. Đây là biểu hiện đầu tiên của người có tác phong công nghiệp. Tình huống 2 Tại công ty Công việc văn phòng khá rảnh, thời gian rỗi lại nhiều nên vào mạng lướt web và chat với bạn bè. Một lần, đang say sưa chat với bạn, bị sếp bắt gặp. Không may là sếp đang bực mình. Mặc dù trưởng phòng hết lời nói đỡ, nhưng theo quy định, giám đốc cho người đó thôi việc. Tại trường học Khi đang nghe giảng, nếu giảng viên bắt gặp sinh viên làm việc riêng thì có thể khiển trách mức nặng nhất là cấm túc môn học đó, và sinh viên học lại năm sau môn học đó. Khi ra ngoài làm việc, ta phải thể hiện tác phong làm việc chuyên nghiệp với trường hợp trên tại công ty nếu bị đuổi việc ta đã mang tiếng xấu và khó có thể làm ở các công ty khác nếu bị ghi vào hồ sơ. Tùy thuộc vào từng trường hợp, mỗi nơi nhưng khi đang ở nhà trường, mức độ xử phạt sẽ khác vì nhà trường là nơi đào tạo, giảng dạy cho ta kiến thức, nền tảng còn Công ty là nơi ta áp dụng kiến thức từ nhà trường vào làm việc Giải pháp Tuyệt đối không làm việc cá nhân ở cơ quan nếu điều này nằm trong quy định. b. Để đạt được hiệu suất cao cao, cần sẵn sàng chuẩn bị Mỗi sinh viên khi đã có khuynh hướng sẽ sẵn sàng chuẩn bị cho mình những kỹ năng và kiến thức tương thích, họ hoàn toàn có thể tiếp thu và không hề tiếp 1 số ít kiến thức và kỹ năng từ phía nhà trường, tuy nhiên họ cần phải có những kỹ năng và kiến thức cơ bản nhất mà một sinh viên phải có khi ra trường. Dù có thao tác trong môi trường tự nhiên nào, việc làm nào, đúng chuyên ngành hay phải làm trong một vị trí không tương thích thì những kiến thức và kỹ năng này vẫn là những chìa khóa cho thành công xuất sắc cho bất kể ai . – Kỹ năng chuyên ngành – Kỹ năng tin học – Kỹ năng ngoại ngữ Ngoài những kiến thức và kỹ năng đã được nêu ở trên lúc bấy giờ người ta thường nhắc tới kiến thức và kỹ năng mềm, đó là những kỹ năng và kiến thức mà những sinh viên không được học trên giảng đường mà phải học ở trong thực tiễn và biến những kỹ năng và kiến thức đó trở thành thế mạnh cho bản thân. Có thể điểm ra 1 số ít kiến thức và kỹ năng lúc bấy giờ đang được những nhà tuyển dụng tương đối chăm sóc – Kỹ năng giao tiếp, thuyết trình – Kỹ năng sáng tạo, tư duy, quan sát – Khả năng làm việc nhóm – Có tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên c. Các môn cần bổ sung, trang bị Nhà trường cần có kế hoạch để không ngừng cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, quy trình giảng dạy của mình như – Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm – thực hành – làm việc, thư viện; bám sát yêu cầu cúa các đề cương môn học để chuẩn bị các học liệu được coi là bắt buộc ghi trong đề cương môn học – Tăng cường khả năng khai thác các tiện ích của mạng nội bộ, mở rộng nguồn tư liệu điện tử, thiết bị dạy học… bằng cách ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin hiện đại. – Các buổi học ngoại khóa, giao lưu với các doanh nghiệp sẽ giúp cho sinh viên mạnh dạn và tự tin hơn khi bước chân ra khỏi ghế giảng đường Trên đây là một số nội dụng mẫu báo cáo tốt nghiệp mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài báo cáo tốt nghiệp, các bạn có thể liên hệ Viết thuê báo cáo tốt nghiệp với mình qua sđt/Zalo 0909232620 nhé! DOWNLOAD FILE Trong tập sách này, Đăng Học phác thảo những sơ khởi về lí luận thư pháp Việt. Bằng kinh nghiệm, kiến thức của mình, ông đã tìm tòi và sáng tạo, mạnh dạng đưa ra phương pháp thực hành, cũng như phân loại các thể chữ như Điền thể, Thủy thể, Mộc thể, Phong thể, Biến thể và cách cảm nhận về tác phẩm thư pháp Việt. Bút một núi vượt gian truân khổ luyện Giấy cả rừng lót bước đến thành công Mực đầy sông chở con đò tri thức Đưa ta về bờ bến của thăng hoa.

lý thuyết và thực hành